TRỰC TUYẾN
Hỗ trợ trực tuyến
TÌM KIẾM THÔNG TIN
LIÊN KẾT WEBSITE



Lượt truy cập:607.932
Hôm qua:853
Hôm nay:328

THẦY TÔI
07:45 | 18/11/2018

THẦY TÔI

… Một buổi sáng Tháng 03/1988. Những cơn rét Nàng Bân cuối cùng dường như tạo điều kiện cho lũ học trò nội trú chúng tôi cuộn tròn trong chiếc chăn bông, như những chú mèo lười nhác không muốn tránh xa bếp tro ấm cúng. Bỗng Thúy – cô bạn cùng lớp, cùng phòng ký túc xá (KTX), cùng bàn học của tôi giọng thất thanh:

  • Thôi chết, muộn học rồi, mau mau dậy không lại bị Sao Đỏ ghi tên kìa.

Nhanh như chớp, chúng tôi phóng ra cái giếng tập thể, quờ quạng cái bàn chải đánh răng với kem “Ngọc Lan” nổi tiếng thời ấy, vơ vội cái khăn lau mặt và hai đứa vắt chân lên cổ chạy lên giảng đường. Không gian cả trường khá yên tĩnh vì lớp nào cũng đã đến giờ giáo viên lên lớp,hai đứa tôimen theo bờ tường của lớp học, thò đầu ra nghe ngóng xem có thấy đội Sao Đỏ không. May quá, không còn ai trực ở khu vực gần lớp tôi nữa,hai đứa rón rén đến gần cửa lớp, đang là giờ toán của thầy Thiêm mà chúng tôi đã muộn gần 10 phút rồi…làm thế nào để vào lớp đây? Chợt Thúy nhớ ra, mắt thầy kém lắm, khi thầy tập trung vào một điểm nào đó để nhìn thì thầy sẽ không thấy được khu vực bên cạnh đâu. Thế là nhân lúc thầy hướng ánh nhìn ra dãy bàn học phía bên trái của lớp, tôi và Thúy khee khẽ di chuyển vào chiếc bàn đầu tiên phía phải – là chiếc bàn quen thuộc trong lớp của hai đứa chúng tôi. Giờ học diễn ra yên ả, thầy Thiêm vẫn ân cần đến bên hai đứa hỏi xem lời giải thế nào, có gặp khó khăn gì không. Vẫn vầng trán cao thông minh, nụ cười hiên hậu và giọng nói trầm ấm như người cha, những cử chỉ quan tâm của thầy theo suốt chúng tôi những ngày cuối cùng của tuổi học trò trước kỳ thi vào đại học.

Năm ấy cả hai chúng tôi cùng đỗ đại học với điểm khá cao và được chọn đi du học tại Liên Xô, học ở 2 thành phố khác nhau. Mùa hè năm 1989, Thúy đến Moscow chơi với tôi,hai đứa cùng ôn nghèo kể khổ, nhớ lại những tháng năm học trò nghịch ngợm nhưng đầy ắp những kỷ niệm tha thiết của thầy – trò, bè bạn lứa tuổi học sinh. Lúc hai đứa cùng trò chuyện và đọc báo, chợt đọc đến bài viết về căn bệnh “thoái hoá điểm vàng”, Thúy bỗng nhìn xa xăm:

- Bạn ơi, vậy là thầy mắc căn bệnh này, khi thầy muốn nhìn thấy một điểm nào thì thầy phải điều tiết cặp mắt rất vất vả, và cái điểm thầy nhìn thấy lại không phải cái điểm thầy đang tập trung. Chứng tỏ hôm ấy thầy đã biết bọn mình đi học muộn, lẻn vào lớp, nhưng thầy không hề la mắng và vẫn ân cần với bọn mình. Ôi, chúng mình xấu hổ quá, ước gì ngày về nước, chúng mình đến thăm thầy và nói lời xin lỗi với thầy, để thầy hiểu rằng đó chỉ là sự nghịch ngợm của tuổi học trò thôi.

Thời gian thấm thoắt trôi qua, mỗi đứa một phương, tôi lại một lần nữa xa quê hương để lập nghiệp ở một nơi cách xa mái trường cũ gần 1000km, chưa một lần về lại mái trường xưa sau 25 năm. Mãi cho đến năm 2015 khi chúng tôi tất cả đã ổn định công việc, cuộc sống, lớp tôi mới có dịp gặp lại khá đông đủ, được gặp lại nhiều thầy cô của mình với biết bao cảm xúc và lòng biết ơn, nhưng cũng ngậm ngùi khi được biết thầy đã vĩnh viễn trở về cát bụi vào năm 1995, khi mà chúng tôi còn đang học tập ở nước bạn. Thế là mong ước được một lần gặp lại thầy đã không thể thực hiện. Tôi quyết định hỏi thăm các thông tin về gia đình thầy. Rồi tôi cũng đã liên lạc được với chị Nga, con gái thứ hai của thầy. Chị Nga cũng học cùng trường THPT với tôi và trên chúng tôi 2 lớp, gia đình chị hiện đang ở TP Hồ Chí Minh. Chúng tôi chưa có điều kiện để gặp mặt nhau nên chỉ trao đổi thông tin qua facebook. Nghe chị kể thêm về cuộc đời của thầy, tôi cảm nhận được cảm xúc nghẹn ngào của chị khi nhớ về người cha cũng là người thầy của chị cách đây 30 năm. Tôi ghi lại vội vàng, chẳng kịp sắp xếp thứ tự, chỉ biết rằng càng biết thêm về Thầy, lòng tôi càng thêm trần đầy yêu thương kính trọng một nhân cách lớn, giản dị nhưng vĩ đại.

Làng Cổ Việt xưa ở gần sông Hồng, cách Chùa Keo khoảng 7km thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình vẫn nổi tiếng với chè ngon (trà xanh), mít ngọt. Dân các làng bên như làng Bộ La, Thuận An, Làng Cọi… thường về chợ Mét mua cất chè tươi đem đi bán ơ chợ Bo, chợ Cọi, chợ Thông, chợ Đền, chợ Sóc. Mít thì chỉ có mùa hè, nhưng chè tươi thì có quanh năm. Cũng là vùng đất châu thổ sông Hồng nhưng sao cây chè tươi lại hợp với đất làng Cổ Việt, gần như nhà nào cũng có mảnh vườn nhỏ trồng chè, nhà nhà đều uống nước chè tươi. Quê Thầy tôi ở đó.

Thầy mắt kém bẩm sinh, ở quê gọi là bệnh quáng gà còn trong y học hiện đại thì chẩn đoán bệnh của Thầy là thoái hoá điểm vàng. Từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ trước, dù phải cuốc bộ đi học qua nhiều cánh đồng, có khi không bước trên bờ mà mắt cập kèm cứ bước xuống ruộng mà Thầy chịu khó đi học không quản ngại đường xa hay mưa rét. Thời ấy mỗi người có khi may mắn chỉ có 1 bộ quần áo bằng vải thô nhuộm củ nâu, việc ăn đói mặc rét là chuyện bình thường. Trời cũng công bằng, không cho con mắt sáng nhưng lại phú cho Thầy một trí nhớ tuyệt diệu và nét mặt trông thật thông minh dễ mến, Thầy hiền hoà vui vẻ với bà con, hay giảng giải lại bài cho các bạn học chung lớp ngay từ thủa ấu thơ ấy. Cuối cấp 3 học trường tỉnh thì Thầy kết tóc xe duyên với cô gái hoa khôi trong làng là giáo viên dạy lớp vỡ lòng, đầy cá tính và có tài nghệ “ứng khẩu thành thơ”. Thầy được là người đầu tiên trong tỉnh được đi học ở nước ngoài, cuối 1959 Thầy lên Hà Nội học tiếng Nga chuẩn bị cho chặng đường 6 năm ở Đại học Lomonoxop, từ đó cuộc sống gia đình chẳng khác bao nhiêu so với Ngưu lang Chức nữ. Cô giáo lớp vỡ lòng chỉ biết cùng làm ruộng với mẹ chồng và chờ đợi… Rồi gần 10 năm sau ngày cưới vợ chồng Thầy mới có con gái đầu lòng, hành trang mang về từ đất nước Liên xô là tấm bằng đỏ tốt nghiệp ĐH, rất nhiều vali sách tiếng Nga, và nói tiếng Nga “như gió”. Năm 1966, Thầy về dạy tại Khoa Toán trường ĐH Sư phạm với môn Phương trình vi phân, thời bấy giờ nghe thật xa lạ đối với những con người sau luỹ tre làng đầy lúa, đầy chè xanh. Chiến tranh ở miền Nam chưa kết thúc, đi từ Thái bình lên Hà Nội thường bằng cái xe đạp, có khi tránh bom phải đi lối cầu Triều Dương, nhiều khi cả thầy trò Khoa Toán phải sơ tán lên Vĩnh phú. Năm 1974, Thầy  xin về dậy lớp chuyên toán đặt tại trường Nam Thư Trì (bây giờ là trường Nguyễn Trãi) huyện Vũ Thư Thái Bình – là trường nơi chúng tôi học 3 năm cấp 3.

Tôi vẫn nhớ, mọc trên bãi tha ma sát chợ Thông là những lớp học nhà lá, khu ký túc xá học sinh lớp T (chuyên toán) của chúng tôi nằm sát mương nước, mở cửa sổ là nhìn thấy nhiêu nấm mộ lô nhô. Cùng học trò lọc nước giếng, ăn cơm tập thể nhưng Thầy miệt mài dịch tài liệu Tiếng Nga, đặt báo Toán Học và Tuổi trẻ, cùng các thầy cô khác để chèo lái các lớp chuyên Toán Thái bình. Thầy rất ít khi soạn giáo án ra giấy, đọc đề từng bài khoảng 2 lần là Thầy nhớ và tính nhẩm, vẽ hình tưởng tượng trong đầu rồi đọc kết quả cho học trò. Thầy quan tâm trò truyện để biết rõ hoàn cảnh từng em. Thầy nhớ cá tính, nét chữ từng người; dặn các em luyện ý chí và học cách làm người còn quan trọng hơn học Toán: “Học là để bản thân mình có cái nghề, biết tránh xa cái xấu, biết tự lập lo cho bản thân mình, thì sau đó mới lo được cho người khác. Học Toán, Lý, Hoá là cần thiết để thi các trường cho mình có cái nghề, nhưng các em phải học cách giải quyết tình huống, học ăn học nói, biết liệu cơm gắp mắm…”

Thời gian dần trôi, mắt Thầy kém dần nhưng Thầy vẫn tự làm các công việc hàng ngày. Thầy vẫn tự đạp xe về quê, cuộc sống thật giản dị vì chẳng thích nhờ cậy ai. Không chỉ có học trò trong trường Chuyên, ngoài giờ dạy chính thức trên lớp, Thầy mở các lớp học miễn phí, ngả cánh cửa làm bàn, dựng cánh cửa làm bảng, dậy lại cho các cháu từ lớp 2, từ bảng cửu chương, từ hằng đẳng thức… rồi các cháu từ chỗ thích đi buông diều, ham chơi ở quê … lên khu tập thể thầy kèm cặp đã thi đỗ cấp 3, đứa thi đỗ các trường nghề, đứa thi đỗ đại học, đứa được đi Đức đứa đi Balan. Thầy là một người cha vô cùng tận tụy và yêu thương gia đình. Vợ thầy làm nông không có nhiều thời gian dành cho các con học hành, nên Thầy đưa cả 3 con gái lên khu tập thể giáo viên để chăm sóc khi đau ốm và dạy các con học hành, rồi 2 con gái lớn của Thầy cũng vào ĐH.

Thời ấy chúng tôi chẳng có facebook, chẳng emai như bây giờ nhưng những cánh thư cứ vượt ngàn trùng khơi gửi về với lời kể chân tình của bao nhiêu lứa học trò gửi từ xứ lạ. Thư từ có khi cả tháng mới tới nơi, những tấm bưu thiếp từ Châu Âu nhất là vào dịp 20/11, dịp năm mới là niềm động viên lớn cho bác lái đò nơi tỉnh lẻ, rằng học trò của mình đã nên người. Tình Thầy trò bao thế hệ gắn bó như tình cha con mà chắc ít nơi nào có được.

Khi chúng tôi lên đường đi du học, cũng là lúc Trường Chuyên chuyển về thị xã, kinh tế đất nước đổi mới, thấy sức khoẻ của mình lúc này không phù hợp với việc đứng lớp ghi bảng, nhưng với trái tim nhiệt huyết của mình, Thầy vẫn học chữ nổi Braille với 6 chấm nổi để dạy cho người mù và học Tiếng Anh để giao tiếp. Những năm 90 của thế kỷ trước kiến thức về bệnh tiểu đường chưa được phổ biến, khi phát hiện ra bệnh tiểu đường thì sức khỏe của thầy yếu dần. Thầy mất ngày 21/10 âm lịch năm 1995, thầy được người thân đưa về quê và nằm bên mẹ của mình. Hai ngôi mộ cạnh nhau “mẹ tròn con vuông”, Thầy về với đất mẹ bình dị như cuộc sống ngày xưa nhưng để lại tình cảm thiêng liêng như tình cha mẹ với các con trong lòng bao thế hệ học trò và đồng nghiệp. Thầy học trong mọi hoàn cảnh để thích nghi với cuộc sống và ra đi khi đã truyền đạt lại tất cả những gì đã học cho các thế hệ một cách chân tình, gần gũi.

Tôi viết về thầy tôi, khi những dòng lệ đang làm nhòa đi những hình ảnh trong thực tại để đưa tôi trở về những tháng ngày thơ ngây của tuổi học trò. Không còn cơ hội để nói lời xin lỗi, lời tri ân đến với Thầy, nhưng tôi hiểu rằng Thầy đã bỏ qua những trò nghịch ngợm tuổi học trò của chúng tôi, để dành tất cả tình cảm sâu nặng, độ lượng như một người cha đối với đàn con dại, để các con có cơ hội tự rèn luyện bản thân mình mà sống có ích cho gia đình cho xã hội…

Thầy ơi!

                                                                     Giang Thị Kim Liên

Các bản tin trước:
  NGƯỜI NÂNG CÁNH ƯỚC MƠ (11:17 | 16/11/2018)
  NGƯỜI THẦY TRONG TRÁI TIM TÔI (09:18 | 16/11/2018)
  Bài dự thi " Viết về người thầy". Bản thu âm (08:37 | 16/11/2018)
  CUỘC THI "VIẾT VỀ NGƯỜI THẦY" THÔNG TIN NHÂN VẬT: HỒ AN  (08:35 | 16/11/2018)
Các bản tin tiếp theo:
  NHỚ VỀ LỚP HỌC ĐẶC BIỆT  (14:52 | 19/11/2018)
Đăng nhập
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:
Đăng nhập với vai trò


Đăng nhập
Biểu mẫu
Thành phố Đà Nẵng
Cổng thông tin điện tử
Đảng bộ Đà Nẵng
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Trang chủ  |  Liên hệ  |  Phản hồi  |  Lên đầu trang