TRỰC TUYẾN
Hỗ trợ trực tuyến
TÌM KIẾM THÔNG TIN
LIÊN KẾT WEBSITE



Lượt truy cập:1.822.893
Hôm qua:1.144
Hôm nay:1.074

BÀN VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
08:22 | 02/04/2021

Người thực hiện: ThS. Trương Thị Điệp

                             Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật

       Tóm tắt: Xã hội ngày càng phát triển, quan hệ, giao dịch dân sự ngày càng mở rộng như hiện nay thì quyền sở hữu là một chế định cơ bản, rất được quan tâm. Đất đai là nguồn tài nguyên, tài sản quan trọng của quốc gia. Pháp luật về  đất đai là luật tác động lớn nhất, cả về kinh tế, chính trị, về an ninh quốc phòng, về tâm lý xã hội của người dân, an ninh trật tự, thậm chí về tôn giáo. Để đất đai thực sự là nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội cần phải có chế độ sở hữu phù hợp.

Từ khoá: Sở hữu toàn dân, đất đai, quyền sử dụng đất, hạn chế.

        Nhìn chung, các quốc gia trên thế giới xác lập chế độ sở hữu đất đai khác nhau; bao gồm: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Cho dù chế độ sở hữu đất đai khác nhau nhưng tựu trung lại, quốc gia nào cũng có một số đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Rất ít các quốc gia như Việt Nam quy định toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Và hiện nay, Quốc hội đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Đất đai 2013 sửa đổi; có rất nhiều luận điểm cho rằng chế độ sở hữu toàn dân không còn phù hợp. Bài viết bàn luận thêm về cơ sở xác lập chế độ sở hữu toàn dân; quyền của người sử dụng đất; tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước về đất đai có đồng nhất với khuyết nhược của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

1. Sơ lược về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai là khái niệm dùng để chỉ 1 hình thức sở hữu đối với đất đai mà trong đó toàn dân là chủ thể. Với chế độ sở hữu này, tất cả công dân của một quốc gia đều là chủ thể được công nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai thông qua hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tạo cơ sở pháp lý cho mọi người có quyền sở hữu về đất đai một cách bình đẳng.

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh…đều thuộc sở hữu toàn dân”. Các bản hiến pháp sau này đều tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Cụ thể: Điều 53 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Điều 197 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Trên cơ sở đó, Điều 4, Luật Đất đai 2013 ghi nhận: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.

Như vậy, chế độ sở hữu toàn dân được ghi nhận lần đầu tiên vào Hiến pháp năm 1980. Đến nay, các văn bản quy phạm pháp luật từ Hiến pháp, bộ luật, luật đều khẳng định, bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Vậy, trong giai đoạn hiện nay, chế độ sở hữu đó có còn phù hợp hay không? Để trả lời câu hỏi này bài viết cần làm rõ 3 vấn đề: Một là, cơ sở để xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; Hai là, quyền của người sử dụng đất theo quy định hiện hành có đáp ứng được nhu cầu trong giao dịch, đáp ứng những mong muốn của người sử dụng đất trong quan hệ pháp luật về đất đai; Ba là, những vấn đề tồn tại nổi cộm thuộc về tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước về đất đai hay thuộc về khuyết nhược của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để góp phần khẳng định chế độ sở hữu này vẫn còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay.

2. Vấn đề thứ nhất, cơ sở để xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

- Về cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin có những chỉ dẫn quan trọng: Vấn đề manh mún ruộng đất, cát cứ, sử dụng không hiệu quả và việc tích tụ, tập trung đất đai là cơ sở hình thành nền sản xuất lớn trong mỗi quốc gia. Và sở hữu tư nhân chính là nguồn gốc của bóc lột và bất công trong xã hội. Nguyên nhân chính của chế độ người bóc lột người là sự tồn tại chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó, đất đai chính là tư liệu sản xuất quan trọng nhất.

- Về cơ sở thực tiễn ở Việt Nam:

Ở nước ta, về lịch sử, quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà nước trong khi quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất rất mờ nhạt. Đất đai là  tặng vật thiên nhiên, không phải của riêng ai và trong điều kiện lịch sử của Việt Nam thì để bảo vệ đất nước, giữ vững độc lập chủ quyền lãnh thổ là xương máu của bao thế hệ. Về chính trị, Việt Nam đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu xây dựng một Nhà nước mà ở đó tất cả lợi ích thuộc về nhân dân.

Như vậy, lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng xác lập chế độ sở hữu toàn dân là có cơ sở. Trong điều kiện hiện nay, khi nước ta cần tập trung để hình thành nền sản xuất lớn, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai vẫn còn phù hợp.

2. Vấn đề thứ hai,  quyền của người sử dụng đất qua các thời kỳ

Có thể khẳng định rằng, quyền của người sử dụng đất được ghi nhận trong luật đất đai qua các thời kỳ là khác nhau, theo xu hướng mở rộng quyền năng của người sử dụng đất. Cụ thể như sau:

Trong Luật Đất đai năm 1987, người sử dụng đất không có quyền được tham gia thị trường quyền sử dụng đất.  Đất ở được sử dụng theo hạn mức diện tích, Nhà nước giao đất cho người có nhu cầu và thu hồi đất của người không còn nhu cầu.

Luật Đất đai 1993 có sự thay đổi theo hướng mở rộng quyền cho người sử dụng đất. Cụ thể, hộ gia đình, cá nhân được thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê đất (từ Điều 74 đến Điều 78).

Điều 106 Luật Đất đai 2003, ghi nhận người sử dụng đất có 10 quyền, bao gồm: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Luật Đất đai 2013 có 8 quyền được ghi nhận tại Điều 167: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, Luật Đất đai năm 1993 không quy định người sử dụng đất được bảo lãnh, tặng cho quyền sử dụng đất, không quy định người thuê đất được cho thuê lại quyền sử dụng đất và cũng không quy định khi hết thời hạn sử dụng đất mà người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất và việc sử dụng đất lại phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước thì có được Nhà nước tiếp tục giao đất hay không… thì Luật Đất đai  năm 2003, 2013 đã bổ sung các quyền này cho người sử dụng đất.

Phải thừa nhận có sự khác biệt về quyền năng của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất với tư cách là người trực tiếp khai thác, sử dụng đất. Đó là: Quyền sở hữu đất đai là quyền có trước, còn quyền sử dụng đất là quyền phái sinh; Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ1.

Tuy nhiên, cần phải khẳng định các quyền tại luật đất đai sau này có nhiều quyền mang tính chất định đoạt tài sản – quyền của chủ sở hữu, nghĩa là việc thực hiện quyền dẫn đến thay đổi người sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực tiếp quản lý, khai thác thửa đất, đó là quyền trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn, thừa kế bằng quyền sử dụng đất. Nghĩa là Nhà nước đã cho phép người dân được định đoạt tài sản đất đai một cách hạn chế, trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Mặc dù thủ tục thực hiện các quyền nêu trên của người sử dụng đất tuy phức tạp hơn so với việc định đoạt các loại tài sản thông thường khác, nhưng nếu nhìn từ góc độ khoa học pháp lý thì sẽ dễ dàng nhận thấy quyền của người sử dụng đất thực chất là một tập hợp nhiều quyền năng về tài sản, trong đó bao gồm cả quyền định đoạt2.

3. Phân biệt hạn chế về quản lý nhà nước về đất đai với khuyết nhược của chế độ sở hữu toàn dân về dất đai

Hiện nay, quản lý đất đai hầu như khâu nào cũng còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Từ việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch sử dụng đất; về tổ chức quản lý giao đất, cho thuê đất và quản lý thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất; quản lý thị trường bất động sản; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đến kiểm tra, kiểm soát đất đai. Một hiện tượng nổi cộm gây bức xúc trong dư luận như: Một số dự án lớn sử dụng đất đô thị còn sử dụng hình thức chỉ định thầu, sử dụng đất sai mục đích; phân lô bán nền khi chưa hoàn thành nghĩa vụ thủ tục tài chính; vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhưng không được xử lý3… Tuy nhiên, cần phải khẳng định đó là hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, không phải là khuyết nhược của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Thời gian đến, việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đất đai; quản lý chặt chẽ hơn đối với đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp, đặc biệt là đất đô thị vì loại đất này có sự biến động lớn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát về đất đai sẽ góp phần khắc phục những khuyết nhược này trong thực tế.

          Như vậy, việc làm rõ 3 vấn đề nêu trên có thể nhận thấy rằng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong giai đoạn hiện nay vẫn còn phù hợp. Người sử dụng đất có đầy đủ các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Quyền năng của người sử dụng đất hiện nay càng ngày càng được mở rộng  với xu hướng tiệm cận với quyền định đoạt của một chủ sở hữu thực sự; đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong giao dịch, đáp ứng những mong muốn của người sử dụng đất trong quan hệ pháp luật về đất đai. Và hạn chế nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận thời gian qua thuộc về tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, hoàn toàn không phải là khuyết điểm của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Cần tách bạch giữa 2 vấn đề này và không đánh đồng, để từ đó có luận điệu xuyên tạc cho rằng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai hiện nay là không còn phù hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đất đai, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr 95, 96.

2. Hồ Quang Huy, Nghiên cứu về quyền của người sử dụng đất ở Việt Nam, https://moj.gov.vn/, truy cập ngày 26/12/2019.

3. Bích Liên, Việc quản lý, sử dụng đất đai tại địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế, http://dangcongsan.vn/, truy cập ngày 26/12/2019.

4.Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH ngày 10/12/2018 của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội về hợp nhất Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014; Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch.

Các bản tin trước:
  QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ: SỰ CHUẨN BỊ CẦN THIẾT (09:26 | 22/03/2021)
  Các bước trong thực hiện sinh hoạt chuyên đề tại chi bộ theo Hướng dẫn số 12 của Ban Tổ chức Trung ương (06:34 | 22/02/2021)
  Tham gia phòng, chống dịch Covid 19 – Phụ nữ phường Hòa Hiệp Bắc thể hiện vai trò xung kích, đi đầu (Ghi nhận trong chuyến nghiên cứu thực tế năm 2020) (09:09 | 03/02/2021)
  NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG (09:07 | 03/02/2021)
Các bản tin tiếp theo:
  ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ TỔ CHỨC THI VẤN ĐÁP CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH (16:34 | 14/04/2021)
  Đà Nẵng – Hướng đi nào cho tương lai? (16:35 | 14/04/2021)
  HÀNH TRANG CHO CON ĐƯỜNG "TÂY DU" CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH-HỒ CHÍ MINH (10:12 | 23/06/2021)
  Xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (10:46 | 27/10/2021)
Trang chủ  |  Liên hệ  |  Phản hồi  |  Lên đầu trang