TRỰC TUYẾN
Hỗ trợ trực tuyến
TÌM KIẾM THÔNG TIN
LIÊN KẾT WEBSITE



Lượt truy cập:295.580
Hôm qua:655
Hôm nay:55

Sự nhạy bén trong tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh giành và giữ chính quyền năm 1945 - 1946
10:53 | 04/04/2018

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập, công bố với toàn thế giới sự ra đời của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khẳng định nhân dân Việt Nam có quyền được sống tự do, mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng, có thể nói hoàn cảnh Việt Nam lúc này rơi vào tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”. Trong hai năm 1945 - 1946, chính quyền non trẻ phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức, vừa chống giặc đói, giặc dốt, vừa chống giặc ngoại xâm. Cuối tháng Tám năm 1945, lấy danh nghĩa quân Đồng minh, gần 20 vạn quân Tưởng, theo gót là lực lượng phản động Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội ồ ạt kéo vào miền Bắc nước ta. Chúng ráo riết thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền phản động. Đằng sau quân Tưởng là Mỹ với dã tâm đặt Đông Dương dưới chế độ “ủy trị” của họ. Ở miền Nam, cũng với danh nghĩa quân Đồng minh, quân Anh vào giải giáp quân Nhật, núp sau quân Anh là quân Pháp. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Chưa bao giờ trên đất nước ta cùng một lúc có nhiều kẻ thù hung bạo và xảo quyệt như lúc này.

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân vượt qua với phương châm vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả của Cách mạng tháng Tám; thực hành sách lược khôn khéo, lúc thì hoà hoãn với Tưởng để đánh thực dân Pháp, lúc thì hoà hoãn với Pháp để đuổi Tưởng, thực hiện sự nhân nhượng có nguyên tắc và triệt để lợi dụng mâu thuẫn của kẻ thù, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Vì thế, chỉ trong hơn một năm xây dựng, chính quyền non trẻ là đã tăng cường được sức mạnh của cách mạng để có thể tự bảo vệ trong khi chưa có sự chi viện, giúp đỡ từ bên ngoài.

Như vậy, trong vòng 16 tháng (từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946), một trong những thành công nổi bật của Đảng ta góp phần bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng là đã triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Lúc thì hoà hoãn nhân nhượng với Tưởng để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc thì tạm thời hoà hoãn với Pháp để đuổi nhanh quân Tưởng. Đó là những biện pháp cực kỳ sáng suốt và tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù và sự nhân nhượng có nguyên tắc. Thành công của sự vận dụng sách lược lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù thời kỳ này bắt nguồn từ sự nhạy bén trong tư duy chính trị của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện ở những điểm sau:

Một là, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị đã phân tích, đánh giá đúng âm mưu, hành động, thế và lực của từng kẻ thù để kịp thời có đối sách thích hợp. Không có sự nhạy cảm đặc biệt như một “linh khiếu chính trị” thì không thể chỉ rõ thực dân Pháp là kẻ thù chính trong khi gần 20 vạn quân Tưởng đã kéo vào miền Bắc. Cũng chính nhờ sự nhạy cảm đặc biệt đó mà chỉ trong vòng mấy ngày cuối tháng 2 đầu tháng 3 nǎm 1946, Đảng đã nhanh chóng chuyển từ hoà với Tưởng để đánh Pháp sang hoà với Pháp để đuổi nhanh quân Tưởng về nước.

Hai là, thực hiện sự hoà hoãn, nhân nhượng với kẻ thù nào, Đảng ta cũng luôn luôn giữ vững nguyên tắc chiến lược, tránh được những sai phạm “tả” hoặc “hữu khuynh”. Nguyên tắc đó là giữ vững chủ quyền quốc gia dân tộc và mục tiêu độc lập thống nhất đất nước, giữ vững chính quyền và thành quả cách mạng. Nguyên tắc hoà với Pháp là giữ vững quyền tự chủ. Giữ vững nguyên tắc nhưng không cứng nhắc mà có sự mềm dẻo về sách lược và linh hoạt về hình thức đấu tranh, luôn luôn nêu cao chính nghĩa và tỏ ra thiện chí của ta. 

Ba là, phải có thực lực cách mạng, nghĩa là phải có sức mạnh cần thiết. Cách mạng không đủ mạnh thì kẻ thù không bao giờ chịu lùi bước. ở đây sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân là một trong những nhân tố cơ bản. Dựa trên sức mạnh của quần chúng nhân dân để chủ động tiến công, phân hoá hàng ngũ địch. Trên thực tế “muốn ngoại giao thắng lợi, phải biểu dương thực lực”.

Bốn là, không thể có thành công về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù nếu không tỉnh táo, sáng suốt về chính trị, hoặc mất cảnh giác, ảo tưởng vào sự thành thật của kẻ thù. Khi hoà hoãn và nhân nhượng phải dự kiến những diễn biến xấu nhất để chủ động đối phó. Bất kể trong tình hình nào cũng phải chủ động. Sự chủ động dựa trên sự phân tích đúng đắn những vấn đề phát sinh phức tạp, lòng tin vững chắc và quyết tâm cách mạng rất cao của đội tiên phong lãnh đạo là Đảng ta, kết hợp với nhiệt tình cách mạng của nhân dân ta. Giữ vững chính quyền nhân dân ở nước ta trong những nǎm 1945 - 1946 làm nổi bật kinh nghiệm về cách mạng biết tự bảo vệ trong bối cảnh lịch sử cực kỳ khó khǎn, phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng một lúc nhân dân ta phải thực hiện nhiều nhiệm vụ lớn: kháng chiến chống xâm lược giữ vững nền độc lập; trấn áp các thế lực phản động, xây dựng và củng cố chính quyền, xây dựng chế độ mới; phát triển kinh tế, vǎn hoá để từng bước ổn định đời sống nhân dân...

Như vậy, có thể thấy được sự sắc bén, nhanh nhạy, vận dụng sáng tạo từng hoàn cảnh cụ thể, biến bất lợi thành có lợi, lợi dụng sự mâu thuẫn phân hoá của kẻ thù, biết vận dụng khéo léo linh hoạt sách lược lúc hoà hoãn, lúc đấu tranh mà Đảng ta đã giữ vững chính quyền cách mạng trong bối cảnh hết sức khó khăn. Trong bối cảnh ấy bản lĩnh tư duy chính trị của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại càng được khẳng định.

Những chủ trương, biện pháp đúng đắn đó đã khơi dậy sức mạnh to lớn của cả dân tộc, do đó chẳng những đã bảo vệ được chính quyền, mà còn đưa cách mạng nước ta tiếp tục phát triển vững chắc và giành thế chủ động ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta và liên tiếp đưa đến những thắng lợi trên tất cả các mặt trận./.

                                                                                Trần Văn Lịch

                                                      Khoa Lý luận Mác – Lênin, TTHCM

Các bản tin trước:
  Khu Sông Đà trong kháng chiến chống Mỹ (22:43 | 22/01/2018)
  Áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống nhằm nâng cao hiệu quả trong giờ thảo luận (09:31 | 18/12/2017)
  Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đào tạo cán bộ và yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy chính trị hiện nay (16:59 | 07/12/2017)
  Phát triển kinh tế phi chính thức - một hướng tạo việc làm cho lao động nhập cư thành phố Đà Nẵng (15:38 | 01/11/2017)
Các bản tin tiếp theo:
  Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả của người học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học viên các trường Chính trị (10:51 | 10/04/2018)
  “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ, đảng viên và việc vận dụng tư tưởng đó trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức Trường chính trị thành phố Đà Nẵng” (13:42 | 20/04/2018)
  PHÉP BIỆN CHỨNG – ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA TRIẾT HỌC HEGEL ĐỐI VỚI TRIẾT HỌC MÁC (10:36 | 26/04/2018)
  Tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ về giáo dục (10:40 | 26/04/2018)
Đăng nhập
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:
Đăng nhập với vai trò


Đăng nhập
Biểu mẫu
Thành phố Đà Nẵng
Cổng thông tin điện tử
Đảng bộ Đà Nẵng
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Trang chủ  |  Liên hệ  |  Phản hồi  |  Lên đầu trang